Kẽ hở pháp lý trong việc xem xét yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời

Cập nhật lúc: 09:30 20/01/2026

Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (BLTTDS) đã dành một chương riêng quy định về biện pháp khẩn cấp tạm thời (BPKCTT), nhằm bảo vệ kịp thời quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, ngăn ngừa hậu quả khó khắc phục có thể xảy ra trong quá trình giải quyết vụ án. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng cho thấy đang tồn tại một khoảng trống pháp lý đáng chú ý liên quan đến quyền tài sản trong thời gian Tòa án xem xét trước khi đưa ra quyết định.

Theo quy định tại Điều 133 BLTTDS 2015, trong thời hạn 03 ngày làm việc (hoặc 48 giờ đối với trường hợp yêu cầu áp dụng biện kháp khẩn cấp tạm thời nộp cùng với đơn khởi kiện) kể từ khi nhận được đơn yêu cầu áp dụng BPKCTT, Tòa án phải ra quyết định áp dụng hoặc không áp dụng biện pháp này. Thế nhưng, trong suốt khoảng thời gian Tòa án đang xem xét đơn, pháp luật lại chưa trao cho Tòa án bất kỳ thẩm quyền tạm thời nào để giữ nguyên hiện trạng tài sản đang có nguy cơ bị tẩu tán, đặc biệt trong các vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất hoặc tài sản có giá trị lớn.
Đối tượng tranh chấp phổ biến là quyền sử dụng đất – loại tài sản có thể được chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp hoặc đăng ký biến động chỉ trong một ngày làm việc. Thực tế cho thấy không ít vụ án mà chỉ trong vài giờ sau khi nguyên đơn nộp đơn yêu cầu BPKCTT, bị đơn đã nhanh chóng ký hợp đồng chuyển nhượng và hoàn tất thủ tục sang tên tại Văn phòng đăng ký đất đai. Dẫn đến nhiều trường hợp trước khi Tòa án kịp ban hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì tài sản đã được chỉnh lý biến động sang người khác, khiến biện pháp khẩn cấp tạm thời mất đi tác dụng.

Nhiều Tòa án địa phương đã linh hoạt bằng cách gửi công văn tạm thời đề nghị cơ quan đăng ký đất đai dừng việc biến động trong khi chờ Tòa án ra quyết định hoặc ra thông báo không áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời. Tuy nhiên, biện pháp này lại chưa có quy định mang tính ràng buộc, do không được quy định trong BLTTDS và các văn bản hướng dẫn. Vì vậy, cơ quan đăng ký đất đai có thể từ chối thực hiện với lý do không có căn cứ pháp luật rõ ràng. Hệ quả là quyền lợi của người yêu cầu bị ảnh hưởng nghiêm trọng, còn Tòa án rơi vào thế bị động, chỉ có thể xử lý hậu quả sau khi tài sản đã bị chuyển dịch. Hơn nữa, việc áp dụng hoặc không áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời có thể dẫn đến hậu quả thiệt hại rất lớn về tài sản và cả trách nhiệm pháp lý, gây áp lực không nhỏ cho Thẩm phán khi mà quyết định của họ vừa phải đảm bảo tính “khẩn cấp”, vừa phải đúng quy định pháp luật, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho bên yêu cầu cũng như bên bị yêu cầu.

Khoảng trống pháp lý này xuất phát từ việc BLTTDS và các văn bản hướng dẫn hiện nay chưa có cơ chế ngăn chặn tạm thời tài sản trong giai đoạn Tòa án xem xét yêu cầu áp dụng BPKCTT.

Tại điểm g khoản 2 Điều 19 Nghị định số 101/2024/NĐ-CP của Chính phủ quy định: “Cơ quan tiếp nhận hồ sơ, cơ quan giải quyết thủ tục không tiếp nhận hồ sơ hoặc dừng giải quyết thủ tục đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất và trả hồ sơ cho người yêu cầu đăng ký, trừ trường hợp đăng ký đất đai lần đầu mà không cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất, trong các trường hợp sau:

g) Nhận được văn bản yêu cầu dừng thực hiện thủ tục hành chính về đất đai để áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của cơ quan có thẩm quyền;”

Mặc dù Nghị định 101/2024/NĐ-CP đã có quy định như trên, tuy nhiên trong quá trình áp dụng lại trở nên lúng túng khi không thể xác định chính xác quy định này được hiểu là văn bản của Tòa án đề nghị tạm dừng giải quyết thủ tục đăng ký đất đai trong thời gian xác minh yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời hay văn bản đó phải là quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời.

  Vì vậy, cần thiết để Tòa án nhân dân tối cao ban hành văn bản hướng dẫn cụ thể về thẩm quyền tạm thời tạm dừng xử lý hồ sơ đăng ký đất đai trong thời gian Tòa án trong xem xét đơn yêu cầu BPKCTT. Đây là giải pháp cần thiết để khắc phục những bất cập như đã nêu, đồng thời hạn chế tối đa trường hợp lợi dụng nhằm tẩu tán tài sản.

  Việc hoàn thiện quy định theo hướng này vừa bảo đảm tính kịp thời và hiệu lực thực tế của biện pháp khẩn cấp tạm thời, vừa thể hiện tinh thần cải cách tư pháp – bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trước khi quyền đó bị xâm hại hoàn toàn. Nếu không sớm có hướng dẫn cụ thể, kẽ hở này sẽ tiếp tục là điểm yếu khiến nhiều quyết định của Tòa án chậm trễ và giảm ý nghĩa bảo vệ quyền lợi thực chất.

Quốc Hà –Việt Tiệp