Trao đổi nghiệp vụ:

Cập nhật lúc: 18:28 09/01/2026

Giải pháp nâng cao chất lượng phối hợp công tác giữa Cơ quan tiến hành tố tụng với Cơ quan quản lý tạm giữ, tạm giam và người bào chữa trong việc trích xuất bị can, bị cáo phục vụ công tác điều tra, truy tố, xét xử.

I. Đặt vấn đề

Trong thời gian qua, hệ thống pháp luật đã bảo đảm tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của người bị buộc tội, đặc biệt là quyền bào chữa đối với bị can, bị cáo đang bị tạm giữ, tạm giam. Tuy nhiên, thực tiễn phối hợp giữa cơ quan tiến hành tố tụng, cơ quan quản lý tạm giữ, tạm giam và người bào chữa vẫn còn phát sinh một số vướng mắc cần được xem xét, trao đổi nhằm thống nhất trong áp dụng pháp luật.

II. Quy định pháp luật có liên quan

Điều 78 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định về đăng ký bào chữa, trong đó khoản 6 nêu rõ giá trị pháp lý của văn bản thông báo người bào chữa. Theo đó:

…“6. Văn bản thông báo người bào chữa có giá trị sử dụng trong suốt quá trình tham gia tố tụng, trừ các trường hợp:

a) Người bị buộc tội từ chối hoặc đề nghị thay đổi người bào chữa;

b) Người đại diện hoặc người thân thích của người bị buộc tội quy định tại điểm b khoản 1 Điều 76 của Bộ luật này từ chối hoặc đề nghị thay đổi người bào chữa.”

Bên cạnh đó, Thông tư liên tịch số 01/2018/TTLT-BCA-BQP-TANDTC-VKSNDTC ngày 23/01/2018 quy định về quan hệ phối hợp giữa cơ sở giam giữ với cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng và viện kiểm sát có thẩm quyền kiểm sát quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam (sau đây gọi tắt là Thông tư 01/2018). Tại Điều 10 quy định:

“Điều 10. Phối hợp giải quyết cho người bị tạm giữ, người bị tạm giam gặp người bào chữa

1. Việc phối hợp, tổ chức cho người bị tạm giữ, người bị tạm giam gặp người bào chữa thực hiện theo quy định tại Điều 80 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 22, Điều 34 của Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam.

2. Khi nhận được văn bản thông báo người bào chữa cho người bị tạm giữ, người bị tạm giam của cơ quan đang thụ lý vụ án thì cơ sở giam giữ tổ chức cho người bào chữa được gặp người bị tạm giữ, người bị tạm giam theo quy định của pháp luật.

3. Trường hợp cần phải giám sát cuộc gặp thì Thủ trưởng, người có thẩm quyền của cơ quan đang thụ lý vụ án phối hợp với cơ sở giam giữ tổ chức giám sát. Nếu người bị tạm giữ, người bị tạm giam, người bào chữa có hành vi vi phạm nội quy cơ sở giam giữ hoặc cản trở việc giải quyết vụ án thì người có thẩm quyền giám sát phải dừng ngay cuộc gặp và lập biên bản, báo cáo với Thủ trưởng cơ sở giam giữ và thông báo bằng văn bản cho cơ quan đang thụ lý vụ án biết để xử lý.

4. Trường hợp người bào chữa có yêu cầu gặp người bị tạm giữ, người bị tạm giam tại nơi khám bệnh, chữa bệnh ngoài cơ sở giam giữ thì cơ sở giam giữ trao đổi với bác sỹ Điều trị; trường hợp được sự đồng ý của bác sỹ Điều trị thì cơ sở giam giữ thông báo cho người bào chữa biết, đồng thời thông báo cho cơ quan đang thụ lý vụ án để có biện pháp phối hợp kịp thời. Người có thẩm quyền của cơ sở giam giữ phải quản lý, giám sát chặt chẽ không để người bào chữa đưa, chuyển đồ vật cấm cho người bị tạm giữ, người bị tạm giam hoặc có vi phạm khác về việc thăm gặp, gây cản trở việc giải quyết vụ án.”

III. Một số vấn đề trong thực tiễn trích xuất bị can, bị cáo

Khoản 2 Điều 10 Thông tư 01/2018 yêu cầu cơ sở giam giữ chỉ tổ chức cho người bào chữa gặp người bị tạm giữ, tạm giam khi nhận được văn bản thông báo người bào chữa từ cơ quan đang thụ lý vụ án.

Quy định này dẫn đến tình trạng trên thực tế, cơ quan quản lý tạm giữ, tạm giam không thể chủ động giải quyết yêu cầu của người bào chữa nếu chưa nhận được thông tin trao đổi từ cơ quan tố tụng, một số ý kiến cho rằng quy định nêu trên đang mâu thuẫn với quy định của Điều 80 Bộ luật Tố tụng hình sự.

IV. Giải pháp đề xuất

Thứ nhất, cơ quan đang thụ lý hồ sơ cần chủ động, kịp thời trao đổi thông tin về người bào chữa cho cơ sở tạm giữ, tạm giam khi có đề nghị của cơ quan này. Điều này xuất phát từ quy định tại khoản 1, Điều 6 Thông tư số 01/2018, theo đó     “1. Cơ quan đang thụ lý vụ án, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm trao đổi kịp thời các thông tin có liên quan về người bị tạm giữ, người bị tạm giam phục vụ công tác quản lý giam giữ.”. Việc trao đổi này có thể bằng văn bản hoặc qua các kênh thông tin trực tiếp giữa các cơ quan nhằm giải quyết kịp thời yêu cầu của người bào chữa.

Thứ hai, trường hợp chưa có quy định về việc cơ quan tiến hành tố tụng gửi văn bản thông báo về người bào chữa khi thụ lý hồ sơ, người bào chữa có thể chủ động liên hệ cơ quan thụ lý để xác nhận vào văn bản thông báo người bào chữa nhằm tạo thuận lợi khi làm việc với cơ sở giam giữ. Đồng thời, người bào chữa khi làm việc với cơ sở tạm giữ, tạm giam, cơ quan tố tụng cũng phải nghiêm túc thực hiện các quy định về xuất trình giấy tờ và quy trình làm việc với người đang bị tạm giữ, tạm giam.

Thứ ba, trong thời gian tới, cần kiến nghị các cơ quan liên quan trong việc rà soát quy trình phối hợp, thống nhất đầu mối tiếp nhận và xử lý văn bản, bảo đảm việc trích xuất được thực hiện đúng quy định và kịp thời.

V. Kết luận

Việc bảo đảm quyền bào chữa trong giai đoạn tạm giữ, tạm giam phụ thuộc lớn vào chất lượng phối hợp giữa cơ quan tố tụng, cơ sở giam giữ và người bào chữa. Các giải pháp nêu trên, nếu được thực hiện đồng bộ, sẽ góp phần nâng cao hiệu quả công tác, bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong hoạt động tư pháp.

Việt Tiệp – TAND Khu vực 9