Tự ý bán cây trên đất tranh chấp: Trộm cắp tài sản, Lừa đảo chiếm đoạt hay chỉ là Tranh chấp dân sự?
Cập nhật lúc: 09:06 30/09/2026
Ranh giới giữa quan hệ pháp luật dân sự và quan hệ pháp luật hình sự từ lâu đã trở thành một trong những vấn đề lý luận và thực tiễn phức tạp, nhạy cảm nhất trong khoa học pháp lý hình sự Việt Nam. Việc phân định không chuẩn xác giữa hai loại quan hệ này không chỉ dẫn đến những oan sai đáng tiếc cho người dân mà còn làm xói mòn lòng tin vào sự công minh của công lý, đồng thời gây ách tắc trong việc giải quyết các tranh chấp tài sản mang tính chất dân sự thuần túy.
Đặt vấn đề: Trong thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự Việt Nam hiện nay, ranh giới pháp lý giữa quan hệ tranh chấp tài sản, tranh chấp đất đai (quan hệ dân sự) và tội phạm hình sự (đặc biệt là các tội phạm xâm phạm quyền sở hữu) thường rất mong manh, dễ bị chồng lấn do những bất cập trong lịch sử quản lý đất đai và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ). Trường hợp điển hình về hành vi tự ý bán cây trồng trên thửa đất đang có tranh chấp ranh giới, phân tích toàn diện cấu thành tội phạm của các tội danh liên quan đến sở hữu, đồng thời đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện nhằm bảo đảm nguyên tắc suy đoán vô tội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người dân theo đúng tinh thần thượng tôn pháp luật.
Ranh giới giữa quan hệ pháp luật dân sự và quan hệ pháp luật hình sự từ lâu đã trở thành một trong những vấn đề lý luận và thực tiễn phức tạp, nhạy cảm nhất trong khoa học pháp lý hình sự Việt Nam. Việc phân định không chuẩn xác giữa hai loại quan hệ này không chỉ dẫn đến những oan sai đáng tiếc cho người dân mà còn làm xói mòn lòng tin vào sự công minh của công lý, đồng thời gây ách tắc trong việc giải quyết các tranh chấp tài sản mang tính chất dân sự thuần túy.
Trong bối cảnh lịch sử quản lý đất đai ở nước ta qua các thời kỳ có nhiều biến động, việc đo đạc, lập bản đồ địa chính và cấp GCNQSDĐ đôi khi xảy ra sai sót, chồng lấn, thiếu sót trong việc xác định hiện trạng tài sản gắn liền với đất (như cây trồng lâu năm, hoa màu, công trình kiến trúc tạm). Sự xung đột pháp lý thường trực giữa “Quyền sử dụng đất hợp pháp theo giấy tờ mới” và “Quyền sở hữu tài sản hình thành từ quá trình lao động, khai hoang lịch sử lâu năm” là nguyên nhân gốc rễ phát sinh nhiều tranh chấp phức tạp.
Vụ việc một người dân tự ý bán số lượng lớn cây gỗ keo trồng trên mảnh đất đang có tranh chấp ranh giới với chủ đất mới được cấp GCNQSDĐ, sau đó bị khởi tố, truy tố và xét xử về tội “Trộm cắp tài sản”, đặt ra câu hỏi bức thiết mang tầm lý luận và thực tiễn về tính chính xác trong việc định danh tội phạm. Việc bổ sung các tình tiết chi tiết về bối cảnh lịch sử sử dụng đất, tâm lý chủ quan của người thực hiện hành vi và diễn biến giao dịch thực tế sẽ là cơ sở quan trọng để giải mã bản chất pháp lý của vụ án này một cách thấu đáo nhất.
Tình huống pháp lý: Thửa đất xảy ra tranh chấp có nguồn gốc do bị cáo Nguyễn Văn A tự khai hoang từ những năm 1980, khi đó khu vực này là đất hoang hóa, chưa có cơ quan Nhà nước quản lý chặt chẽ bằng hồ sơ địa chính chi tiết. Quá trình canh tác diễn ra liên tục qua nhiều thập kỷ. Đến năm 2008, bị cáo A tự bỏ chi phí mua giống cây gỗ keo về trồng trên diện tích đất khai hoang này. Năm 2014, bị cáo đã tiến hành khai thác (cưa hạ, bán) một đợt đầu tiên mà hoàn toàn không gặp bất kỳ sự phản đối, tranh chấp ranh giới hay tranh chấp quyền sở hữu nào từ phía các hộ liền kề hay chính quyền địa phương.
Trong giai đoạn sau, thông qua công tác đo đạc lập bản đồ địa chính tổng thể của địa phương, thửa đất trên đã được cấp GCNQSDĐ cho một chủ thể khác (gọi là chủ đất mới) mà không tiến hành đối soát kỹ lưỡng hiện trạng cây trồng lâu năm cũng như không lấy ý kiến xác nhận của người đang trực tiếp canh tác, quản lý hoa màu trên đất. Từ đây phát sinh mâu thuẫn ranh giới pháp lý giữa chủ giấy chứng nhận và người khai hoang cũ.
Do nhận thức chủ quan rằng cây do chính mình trồng trên đất khai hoang, bị cáo đã tự thỏa thuận bán 100 cây gỗ keo trồng trên thửa đất này cho một người mua gỗ dạo và nhận trước số tiền đặt cọc là 3.000.000 đồng. Giao dịch được thực hiện công khai, có viết giấy biên nhận viết tay đơn sơ. Khi người mua gỗ dạo đưa máy móc, nhân công đến cưa hạ số cây nói trên vào ban ngày (giá trị số cây bị thiệt hại theo kết luận định giá tài sản được cơ quan định giá xác định là 3.986.000 đồng), chủ sở hữu đất theo GCNQSDĐ phát hiện, ra ngăn cản và trình báo cơ quan chức năng. Thay vì hướng dẫn các bên giải quyết tranh chấp ranh giới và tài sản theo thủ tục tố tụng dân sự, cơ quan chức năng đã tiến hành lập biên bản và khởi tố vụ án hình sự.
Tại cơ quan điều tra, bị cáo luôn giữ thái độ kêu oan kiên quyết, khai nhận rõ ràng về nguồn gốc khai hoang từ năm 1980, quá trình tự trồng cây năm 2008, việc khai thác thành công năm 2014 và khẳng định bản thân hoàn toàn không có ý chí chiếm đoạt tài sản của người khác mà chỉ định đoạt tài sản do chính sức lao động của mình tạo ra.
Tồn tại các quan điểm khác nhau trong thực tiễn, cụ thể:
Quan điểm thứ nhất: Bản chất là “Tranh chấp dân sự thuần túy” vụ việc thực chất xuất phát từ tranh chấp ranh giới đất đai và tranh chấp quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất có nguồn gốc lịch sử phức tạp. Bị cáo thực hiện việc bán cây dựa trên niềm tin nội tâm hoàn toàn hợp lý và thiện chí rằng mình là chủ sở hữu thực sự. Do đó, hành vi không cấu thành tội phạm hình sự do không thỏa mãn yếu tố Lỗi trong mặt chủ quan.
Quan điểm thứ hai: Tội “Trộm cắp tài sản” tài sản (cây gỗ) nằm trên thửa đất đã được Nhà nước cấp GCNQSDĐ hợp pháp cho chủ đất mới. Mọi hành vi tự ý tác động, cưa hạ, chuyển dịch quyền sở hữu tài sản này mà không được sự đồng ý của chủ sử dụng đất hợp pháp đều cấu thành hành vi chiếm đoạt tài sản trái pháp luật. Căn cứ pháp lý: Điều 173 Bộ luật Hình sự 2015.
Quan điểm thứ ba, quan điểm của tác giả: Cần áp dụng nguyên tắc suy đoán vô tội quy định tại Điều 13 Bộ luật tố tụng Hình sự chưa đủ căn cứ để kết tội bị cáo Nguyễn Văn A. Bởi lẽ:
Thứ nhất, mặt khách quan của tội trộm cắp tài sản: Đặc trưng cơ bản, mang tính bản chất của tội trộm cắp tài sản là hành vi “lén lút” nhằm dịch chuyển tài sản ra khỏi sự quản lý của chủ sở hữu một cách bí mật. Trong vụ án này, bị cáo công khai thỏa thuận bán cây, người mua dạo mang máy móc công cụ đến cưa hạ cây giữa ban ngày, hoàn toàn không có sự che giấu, lén lút hay bí mật. Do đó, việc kết tội bị cáo về tội "Trộm cắp tài sản" là một sai lầm trong việc áp dụng pháp luật hình sự về mặt khách quan.
Thứ hai: đánh giá yếu tố lỗi và mục đích chiếm đoạt (mặt chủ quan): Tội phạm xâm phạm sở hữu luôn đòi hỏi lỗi cố ý trực tiếp và mục đích chiếm đoạt tài sản của người khác. Tuy nhiên, hồ sơ thể hiện thửa đất có nguồn gốc lịch sử phức tạp. Bị cáo có quá trình sử dụng đất và trồng cây từ trước khi chủ đất hiện tại được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và đã từng khai thác lâm sản mà không gặp phải sự tranh chấp nào. Việc bị cáo bán cây xuất phát từ nhận thức chủ quan rằng tài sản này do sức lao động của mình tạo ra trên đất tự khai hoang. Khi ranh giới đất đai và quyền sở hữu đối với tài sản trên đất chưa được phân định rõ ràng bởi cơ quan có thẩm quyền, chưa thể khẳng định bị cáo có ý chí “Chiếm đoạt tài sản của người khác”.
Thứ ba, dòng dịch chuyển tài sản: Nếu có căn cứ chứng minh bị cáo biết rõ cây trồng và đất đã thuộc về người khác nhưng vẫn cố tình gian dối để bán cho người mua cây dạo nhằm lấy tiền, thì hành vi này thỏa mãn cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Khi đó, nạn nhân trực tiếp bị lừa và bị thiệt hại về tài sản chính là người mua cây dạo (bị mất tiền cọc do giao dịch vô hiệu), chứ không phải chủ đất. Đối với chủ đất, hành vi cưa hạ cây của người mua dạo chỉ là hệ quả khách quan của sự lừa dối từ bị cáo gây ra.
Trên đây là quan điểm của tác giả về việc định tội danh Nguyễn Văn A? Xin được trao đổi, mong nhận được nhiều ý kiến tranh luận của đồng nghiệp ./.
Các tin khác
- Thời hiệu khởi kiện đối với yêu cầu trả lại tiền đặt cọc
- Miễn hợp pháp hóa lãnh sự theo Công ước Apostille: Những đổi mới căn bản và tác động đến hoạt động tố tụng từ ngày 11/9/2026
- “Một số giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả của việc thu thập chứng cứ”
- Một số điểm mới cốt lõi của nghị định số 281/2026/NĐ-CP ngày 13/7/2026 của Chính phủ và lưu ý trong thực tiễn xét xử
- Một số khó khăn và đề xuất liên quan đến sử dụng phần mềm bản quyền tại Tòa án nhân dân khu vực