Một số ý kiến liên quan đến vấn đề trưng cầu giám định trong vụ án tranh chấp hợp đồng vay tài sản mà chứng cứ chỉ có giấy vay tiền

Cập nhật lúc: 09:31 31/03/2026

Một số ý kiến liên quan đến vấn đề trưng cầu giám định trong vụ án tranh chấp hợp đồng vay tài sản mà chứng cứ chỉ có giấy vay tiền

1. Đặt vấn đề

Trong thực tiễn giải quyết các vụ án dân sự về tranh chấp hợp đồng vay tài sản, vấn đề trưng cầu giám định chữ viết, chữ ký trên giấy vay tiền đã được nhiều tác giả, nhà nghiên cứu và người làm công tác thực tiễn đề cập, trao đổi dưới nhiều góc độ khác nhau. Có thể kể đến bài viết  “Đánh giá chứng cứ trong vụ án tranh chấp hợp đồng vay tiền khi chỉ có giấy vay tiền” của tác giả Lại Văn Khanh – TAND thị xã Buôn Hồ - Nay là TAND Khu vực 8 – Đắk Lắk đăng trên Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử ngày 03/4/2021. Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa có hướng dẫn cụ thể, thống nhất từ cơ quan có thẩm quyền, dẫn đến việc áp dụng pháp luật còn thiếu đồng bộ, gây lúng túng cho Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án.

Đặc biệt, trong bối cảnh số lượng tranh chấp hợp đồng vay tài sản ngày càng gia tăng, bên cạnh đó, bản thân việc tìm tài liệu đối chứng khi giám định là vấn đề hết sức khó khăn. Do đó yêu cầu đặt ra là cần có cách hiểu và áp dụng hợp lý đối với việc trưng cầu giám định, nhằm vừa bảo đảm quyền lợi của các bên đương sự, vừa nâng cao hiệu quả giải quyết vụ án

2. Nội dung vướng mắc

Hiện nay, một trong những khó khăn phổ biến là xác định liệu Tòa án có bắt buộc phải trưng cầu giám định chữ viết, chữ ký trong mọi trường hợp tranh chấp hợp đồng vay tài sản khi chứng cứ chứng minh chỉ có giấy vay tiền.

Quan điểm phổ biến hiện nay cho rằng nghĩa vụ chứng minh thuộc về đương sự. Theo đó, nếu bị đơn không hợp tác hoặc phủ nhận chữ viết, chữ ký, thì nguyên đơn phải chủ động đề nghị trưng cầu giám định để chứng minh yêu cầu khởi kiện của mình là có căn cứ.

Hoặc một số quan điểm cho rằng trường hợp tống đạt được trực tiếp văn bản tố tụng cho đương sự mà đương sự không phản đối thì Tòa án tiến hành xét xử mà không trưng cầu giám định, mặt khác nếu chỉ tống đạt được văn bản tố tụng bằng thủ tục niêm yết hoặc thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng thì vẫn cần tiến hành trưng cầu giám định.

Tuy nhiên, tác giả cho rằng cần có cách tiếp cận linh hoạt hơn. Đồng ý rằng nghĩa vụ chứng minh thuộc về đương sự, nhưng khi nguyên đơn đã nộp đơn khởi kiện, được Tòa án thụ lý và đã thực hiện việc tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án cho bị đơn, thì có thể xem nghĩa vụ chứng minh ban đầu của nguyên đơn đã được thực hiện.

Tại thời điểm này, nghĩa vụ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp chuyển sang bị đơn. Quan điểm này phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự: đương sự phản đối yêu cầu của người khác phải thể hiện bằng văn bản và phải cung cấp chứng cứ để chứng minh cho sự phản đối đó. Đồng thời, khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự cũng quy định rằng những tình tiết, sự kiện mà một bên không phản đối thì không phải chứng minh.

Từ đó, có thể thấy rằng có thể xem xét không phải trong mọi trường hợp mà Tòa án đều phải trưng cầu giám định chữ viết, chữ ký. Vấn đề cốt lõi cần xem xét là: Nên hiểu thế nào về việc đã thông báo hợp lệ cho bị đơn và bị đơn không phản đối?

Theo quan điểm của người viết, việc này cần phân tích dựa trên hai yếu tố: (i) việc tống đạt văn bản tố tụng có hợp lệ và (ii) phản ứng của bị đơn.

Trường hợp thứ nhất: Tòa án đã tống đạt trực tiếp, hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn (như thông báo thụ lý, giấy triệu tập), nhưng bị đơn không có ý kiến phản đối, không cung cấp chứng cứ, không tham gia tố tụng. Khi đó, có thể xác định bị đơn đã biết nhưng không phản đối. Điều này đồng nghĩa với việc bị đơn từ bỏ quyền chứng minh của mình. Tòa án có thể căn cứ vào chứng cứ do nguyên đơn cung cấp để giải quyết vụ án mà không cần thiết phải trưng cầu giám định.

Trường hợp thứ hai: Văn bản tố tụng được tống đạt bằng hình thức niêm yết công khai hoặc thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng. Trong trường hợp này, nếu có căn cứ xác định bị đơn cố tình che giấu địa chỉ, trốn tránh nghĩa vụ tố tụng, thì có thể áp dụng quy định tại điểm a khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP để xác định bị đơn đã từ bỏ quyền chứng minh. Khi đó, Tòa án vẫn có thể tiến hành xét xử mà không cần trưng cầu giám định.

Tại Điều 174 Bộ luật tố tụng dân sự quy định: “Điều 174. Tính hợp lệ của việc cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng

1. Việc cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng được thực hiện theo quy định của Bộ luật này thì được coi là hợp lệ.

2. Người có nghĩa vụ thực hiện việc cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng phải thực hiện theo quy định của Bộ luật này.

Người có nghĩa vụ thi hành các văn bản tố tụng đã được cấp, tống đạt, thông báo hợp lệ phải nghiêm chỉnh thi hành.

Như vậy, dù là tống đạt trực tiếp hay gián tiếp, miễn là được thực hiện đúng, đủ trình tự do Bộ luật tố tụng dân sự quy định thì cần xem xét việc thông báo cho bị đơn đã hoàn thành, vấn đề bị đơn không tự mình bảo vệ cho quyền và lợi ích hợp pháp của mình không phải do lỗi của nguyên đơn hay của Tòa án mà là của chính họ. Vì vậy, Tòa án có thể tiến hành các bước tố tụng tiếp theo mà không cần phải tiến hành trưng cầu giám định nữa.

3. Bảo vệ quyền và lợi ích của bị đơn vắng mặt

Bên cạnh việc bảo đảm quyền khởi kiện và chứng minh của nguyên đơn, cũng cần quan tâm đến việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn, đặc biệt trong trường hợp bị đơn vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án.

Trong thực tiễn, có những trường hợp bị đơn không tham gia tố tụng, dẫn đến việc Tòa án giải quyết vụ án dựa trên chứng cứ là giấy vay tiền mà không tiến hành giám định chữ viết, chữ ký. Sau khi bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật, bị đơn mới biết và xuất trình được chứng cứ chứng minh rằng chữ viết, chữ ký trên giấy vay tiền không phải của mình.

Theo quan điểm của tác giả, trong trường hợp này, bị đơn vẫn có cơ chế pháp lý để bảo vệ quyền lợi của mình. Cụ thể, nếu có căn cứ xác định chứng cứ mà Tòa án đã sử dụng là không đúng sự thật (ví dụ: chữ viết, chữ ký bị giả mạo), thì bị đơn có quyền yêu cầu xem xét lại bản án theo thủ tục tái thẩm theo quy định tại Điều 352 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Cơ chế này góp phần bảo đảm sự cân bằng giữa hai yêu cầu là không làm kéo dài, phức tạp hóa quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn sơ thẩm và bảo đảm quyền tiếp cận công lý của bị đơn khi có căn cứ hợp lý.

Kết luận

Từ những phân tích trên, tác giả cho rằng cần có hướng dẫn cụ thể từ cơ quan có thẩm quyền về việc trưng cầu giám định chữ viết, chữ ký trong các vụ án tranh chấp hợp đồng vay tài sản. Việc áp dụng cần dựa trên nguyên tắc tôn trọng nghĩa vụ chứng minh của đương sự, đồng thời xem xét đầy đủ thái độ tố tụng của bị đơn.

Bài viết là quan điểm cá nhân của tác giả, rất mong nhận được sự trao đổi, góp ý từ bạn đọc và các đồng nghiệp để tiếp tục hoàn thiện nhận thức và thực tiễn áp dụng pháp luật trong lĩnh vực này.

Mai Loan